Năm Giải Phóng của Đức Chúa Cha
Cứ mỗi năm thứ bảy, các món nợ được tha, và luật gọi đúng tên sự cám dỗ: từ chối cho vay vì năm tha nợ đã gần kề. Hãy mở rộng tay ra. Những người đầy tớ được trả tự do ra đi có đủ hành trang, chứ không đi tay không, vì ngươi đã từng làm nô lệ tại Ai Cập và Cha ngươi đã chuộc ngươi.
15 1Cứ cuối mỗi bảy năm, anh em phải ban hành sự giải phóng các món nợ. 2Đây là sự giải phóng: mỗi chủ nợ phải hủy bỏ món nợ đã cho người lân cận mình vay. Người ấy không được đòi nợ người lân cận hay anh em mình, vì Cha của anh em đã công bố sự giải phóng. a a v2 Cứ mỗi năm thứ bảy, các món nợ giữa những người Y-sơ-ra-ên với nhau đều được tha — một sự khởi động lại đều đặn, giữ cho cảnh nghèo khổ không đông cứng thành sự bần cùng vĩnh viễn. 3Anh em có thể đòi nợ người ngoại bang, nhưng phải tha cho anh em mình món nợ họ thiếu anh em. 4Tuy nhiên, giữa anh em sẽ không có người nghèo khổ, vì Cha của anh em chắc chắn sẽ ban phước cho anh em trong xứ mà Cha của anh em ban cho anh em nhận làm cơ nghiệp. 5Miễn là anh em thật lòng lắng nghe tiếng của Cha anh em, cẩn thận vâng giữ trọn điều răn nầy mà tôi truyền cho anh em hôm nay. 6Vì Cha của anh em sẽ ban phước cho anh em như Ngài đã hứa. Anh em sẽ cho nhiều dân tộc vay mượn, còn mình chẳng vay mượn ai; anh em sẽ cai trị nhiều dân tộc, nhưng không dân nào cai trị anh em.
7Nếu trong anh em có một người nghèo khổ ở bất cứ thành nào trong xứ mà Cha của anh em ban cho anh em, thì đừng chai lòng hay nắm tay lại đối với người anh em nghèo khổ ấy. 8Nhưng phải rộng mở bàn tay và vui lòng cho người vay mượn đủ dùng cho những gì người cần. 9Hãy cẩn thận, đừng để lòng anh em nảy ra ý tưởng gian ác nầy: ‘Năm thứ bảy, năm giải phóng, đã gần rồi,’ để rồi anh em nhìn người anh em nghèo khổ bằng con mắt độc ác mà chẳng cho gì cả. Người sẽ kêu cầu cùng Cha của anh em để nghịch cùng anh em, và anh em sẽ mắc tội. 10Hãy rộng rãi ban cho người, và khi ban cho, lòng anh em đừng buồn tiếc, vì bởi đó Cha của anh em sẽ ban phước cho anh em trong mọi công việc và mọi điều tay anh em làm. 11Vì trong xứ sẽ chẳng bao giờ thiếu người nghèo khổ, nên tôi truyền cho anh em rằng: Hãy rộng mở bàn tay đối với anh em mình, với người nghèo khổ và thiếu thốn trong xứ anh em.
Trả Tự Do cho Tôi Tớ Người Hê-bơ-rơ
12Nếu anh em mình, một người nam hay nữ Hê-bơ-rơ, bị bán cho anh em và phục vụ anh em sáu năm, thì đến năm thứ bảy anh em phải trả tự do cho người. 13Và khi trả tự do cho người, anh em đừng để người ra đi với hai bàn tay trắng. 14Hãy rộng rãi cấp cho người từ bầy chiên, sân đạp lúa và hầm ép rượu của anh em, tùy theo phước lành mà Cha của anh em đã ban cho anh em. 15Hãy nhớ rằng anh em từng làm nô lệ trong xứ Ai Cập, và Cha của anh em đã cứu chuộc anh em; vì vậy hôm nay tôi truyền cho anh em điều nầy. 16Nhưng nếu người nói với anh em: ‘Tôi không muốn rời khỏi ông,’ vì người thương anh em và gia đình anh em, và được sung túc khi ở với anh em, 17thì anh em hãy lấy dùi xỏ qua tai người vào cửa, và người sẽ làm tôi tớ anh em mãi mãi. Đối với tớ gái, anh em cũng làm như vậy. 18Đừng coi việc trả tự do cho người là khó, vì sáu năm phục vụ của người đáng giá gấp đôi tiền công của người làm thuê. Cha của anh em sẽ ban phước cho anh em trong mọi việc anh em làm.
Biệt Riêng Các Con Vật Đầu Lòng
19Hãy biệt riêng cho Cha của anh em mọi con đực đầu lòng của bầy bò và bầy chiên anh em. Đừng bắt con đầu lòng của bầy bò làm việc, cũng đừng hớt lông con đầu lòng của bầy chiên. 20Mỗi năm, anh em và gia đình mình sẽ ăn nó trước mặt Cha của anh em, tại nơi Cha của anh em chọn. 21Nhưng nếu con vật có tì vết, què hay mù, hoặc bất kỳ khuyết tật nghiêm trọng nào, thì đừng dâng nó làm sinh tế cho Cha của anh em. 22Hãy ăn nó trong các thành của anh em; cả người ô uế lẫn người thanh sạch đều được ăn, như ăn thịt hoàng dương hay hươu nai vậy. 23Chỉ có điều anh em không được ăn huyết nó; hãy đổ huyết ấy trên đất như đổ nước.