Dân của Đức Chúa Cha trở về quê hương
Danh sách những người lưu đày trở về, theo từng họ tộc và từng thành, gồm các thầy tế lễ, người Lê-vi, người ca hát và người phục dịch đền thờ, tổng cộng 42.360 người. Một số người không chứng minh được dòng dõi mình nên bị cấm ăn vật thực của thầy tế lễ. Khi đến nhà đổ nát của Cha chúng ta, các thủ lãnh rộng rãi dâng hiến để xây lại.
2 1Đây là những người trong tỉnh đã từ chốn lưu đày trở về—những người mà Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, đã bắt lưu đày sang Ba-by-lôn. Họ trở về Giê-ru-sa-lem và Giu-đa, mỗi người về thành của mình. 2Họ trở về cùng với Xô-rô-ba-bên, Giê-sua, Nê-hê-mi, Sê-ra-gia, Rê-ê-la-gia, Mạc-đô-chê, Binh-san, Mít-bạt, Biết-vai, Rê-hum và Ba-a-na. Đây là số người nam của dân Y-sơ-ra-ên:
3con cháu Pha-rốt, 2.172 người; 4con cháu Sê-pha-tia, 372 người; 5con cháu A-rách, 775 người; 6con cháu Pha-hát-Mô-áp, tức con cháu Giê-sua và Giô-áp, 2.812 người; 7con cháu Ê-lam, 1.254 người; 8con cháu Xát-tu, 945 người; 9con cháu Xác-cai, 760 người; 10con cháu Ba-ni, 642 người; 11con cháu Bê-bai, 623 người; 12con cháu A-gát, 1.222 người; 13con cháu A-đô-ni-cam, 666 người; 14con cháu Biết-vai, 2.056 người; 15con cháu A-đin, 454 người; 16con cháu A-te, tức dòng dõi Ê-xê-chia, 98 người; 17con cháu Bết-sai, 323 người; 18con cháu Giô-ra, 112 người; 19con cháu Ha-sum, 223 người; 20con cháu Ghi-ba, 95 người; 21người thành Bết-lê-hem, 123 người; 22người thành Nê-tô-pha, 56 người; 23người thành A-na-tốt, 128 người; 24người thành Ách-ma-vết, 42 người; 25người thành Ki-ri-át A-rim, Kê-phi-ra và Bê-ê-rốt, 743 người; 26người thành Ra-ma và Ghê-ba, 621 người; 27người thành Mích-ma, 122 người; 28người thành Bê-tên và A-hi, 223 người; 29người thành Nê-bô, 52 người; 30người thành Mác-bi, 156 người; 31con cháu Ê-lam kia, 1.254 người; 32con cháu Ha-rim, 320 người; 33người thành Lót, Ha-đít và Ô-nô, 725 người; 34người thành Giê-ri-cô, 345 người; 35người thành Sê-na, 3.630 người.
36Về các thầy tế lễ: con cháu Giê-đa-gia, thuộc nhà Giê-sua, 973 người; 37con cháu Y-mê, 1.052 người; 38con cháu Pha-su-rơ, 1.247 người; 39con cháu Ha-rim, 1.017 người.
40Về người Lê-vi: con cháu Giê-sua và Cát-mi-ên, thuộc dòng dõi Hô-đa-via, 74 người. 41Về những người ca hát: con cháu A-sáp, 128 người. 42Về những người giữ cửa: dòng dõi Sa-lum, A-te, Tanh-môn, A-cúp, Ha-ti-ta và Sô-bai—tất cả là 139 người.
43Về những người phục dịch đền thờ: con cháu Xi-ha, con cháu Ha-su-pha, con cháu Ta-ba-ốt, 44con cháu Kê-rốt, con cháu Si-a-ha, con cháu Pha-đôn, 45con cháu Lê-ba-na, con cháu Ha-ga-ba, con cháu A-cúp, 46con cháu Ha-gáp, con cháu Sam-lai, con cháu Ha-nan, 47con cháu Ghi-đen, con cháu Ga-ha, con cháu Rê-a-gia, 48con cháu Rê-xin, con cháu Nê-cô-đa, con cháu Ga-xam, 49con cháu U-xa, con cháu Pha-sê-a, con cháu Bê-sai, 50con cháu Át-na, con cháu Mê-u-nim, con cháu Nê-phi-sim, 51con cháu Bác-búc, con cháu Ha-cu-pha, con cháu Ha-hua, 52con cháu Bát-lút, con cháu Mê-hi-đa, con cháu Hạt-sa, 53con cháu Bạt-cốt, con cháu Si-sê-ra, con cháu Tha-mách, 54con cháu Nê-xia và con cháu Ha-ti-pha.
55Về con cháu các tôi tớ của Sa-lô-môn: con cháu Sô-tai, con cháu Sô-phê-rết, con cháu Phê-ru-đa, 56con cháu Gia-a-la, con cháu Đạt-côn, con cháu Ghi-đen, 57con cháu Sê-pha-tia, con cháu Hát-tinh, con cháu Phô-kê-rết Ha-xê-ba-im và con cháu A-mi. 58Tất cả những người phục dịch đền thờ và con cháu các tôi tớ của Sa-lô-môn là 392 người.
59Đây là những người từ Tên-Mê-la, Tên-Hạt-sa, Kê-rúp, A-đan và Y-mê trở về, nhưng không thể chứng tỏ được rằng họ hay gia tộc họ thuộc dòng dõi Y-sơ-ra-ên: 60con cháu Đê-la-gia, con cháu Tô-bia và con cháu Nê-cô-đa, 652 người. 61Trong con cháu các thầy tế lễ: con cháu Ha-ba-gia, con cháu Hắc-cốt và con cháu Bạt-xi-lai, người đã cưới một con gái của Bạt-xi-lai, người Ga-la-át, làm vợ và mang lấy tên của gia tộc ấy. 62Họ tra tìm tên mình trong sổ gia phả nhưng không thấy, nên bị loại khỏi chức tế lễ, xem như ô uế. 63Quan tổng đốc bảo họ không được ăn các vật chí thánh cho đến khi có một thầy tế lễ dùng U-rim và Thu-mim mà cầu hỏi. a a v63 U-rim và Thu-mim là những vật thánh do thầy tế lễ thượng phẩm mang giữ, được dùng để cầu hỏi sự hướng dẫn của Đức Chúa Trời trong các quyết định chính thức.
64Cả hội chúng hợp lại có 42.360 người, 65không kể các tôi trai tớ gái của họ, là 7.337 người; và họ có 200 nam nữ ca sĩ. 66Họ có 736 con ngựa, 245 con la, 67435 con lạc đà và 6.720 con lừa.
68Khi họ đến nhà của Cha chúng ta tại Giê-ru-sa-lem, một số trưởng gia tộc đã tự nguyện dâng hiến cho nhà của Cha chúng ta, để xây dựng lại trên nền cũ. 69Tùy theo khả năng của mình, họ dâng vào kho công trình 61.000 đồng tiền vàng, khoảng 2.835 ki-lô-gam bạc và một trăm bộ lễ phục cho các thầy tế lễ.
70Vậy, các thầy tế lễ, người Lê-vi, một số dân chúng, những người ca hát, những người giữ cửa và những người phục dịch đền thờ đều định cư trong các thành của mình—cả dân Y-sơ-ra-ên ở trong các thành của họ.